VỀ CÁC ĐỊA DANH TRÊN GẠCH XÂY THÀNH NHÀ HỒ (THANH HÓA)
“Mùa xuân, tháng giêng, (vua) sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất ở động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thành đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất” (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 28b). Chỉ vài…

Tác giả: Đặng Hồng Sơn và nnk · Công bố lần đầu: Tạp chí Khảo cổ học số 2/2012
“Mùa xuân, tháng giêng, (vua) sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất ở động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thành đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất” (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 28b). Chỉ vài dòng ngắn ngủi, nhưng sử cũ đã kể về một kỳ tích được UNESSCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Tài khéo ấy được thực hiện thế nào, chúng tôi tham vọng qua việc đọc những con chữ trên gạch sẽ góp một góc nhìn hẹp vào công trình nghiên cứu về Thành Nhà Hồ.
Địa danh in/khắc trên gạch ở Thành Nhà Hồ đã từng được chúng tôi công bố với số lượng tăng dần qua các mùa điền dã, từ 21 địa danh năm 2005 (Đặng Hồng Sơn 2005 : 679-685) lên đến 54 địa danh năm 2008 (Đặng Hồng Sơn (2008: 53-69) và hơn 100 địa danh năm 2010 (Lê Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Long, Đặng Hồng Sơn 2011: 493-496). Chúng cung cấp một số thông tin quý giá cho việc nghiên cứu quá trình chuẩn bị vật liệu xây thành. Chỉ một số viên gạch có chữ được tìm thấy trong các hố khai quật, còn phần lớn số chữ còn lại được sưu tầm trong các nhà dân xung quanh thành. Chúng có một số đặc điểm chung về kỹ thuật:
- Chữ in/khắc khi gạch còn ướt.
- Chữ in trên gạch bằng dấu hình chữ nhật hoặc bầu dục, một số viên chữ được khắc bằng que, cá biệt có viên vừa có chữ in bằng dấu vừa có chữ khắc bằng que. Con dấu in chìm vào gạch với chữ nổi hoặc chìm theo chiều đọc từ trên xuống dưới.
- Chữ in ở hai vị trí: phần lớn ở cạnh ngang, số ít ở cạnh dọc, có viên chữ in ở cả hai cạnh.
- Chữ gồm hai nội dung: phần nhiều ghi tên địa danh, một số mang nội dung khác.
- Kích thước dấu: dài 3,5cm - 13cm, rộng 1,5cm - 3,9cm và in sâu trung bình 0,1cm - 0,3cm, đôi khi có dấu khắc chữ in ra thành chữ ngược.
- Kích thước và loại hình gạch gồm hai loại: ghi chữ Vĩnh Ninh trường và ghi tên nhiều địa phương khác nhau.
Loại 1: gạch Vĩnh Ninh trường; dài 40cm, rộng 20cm, dày 5cm - 6cm và nặng 5kg -6kg; dấu in chìm vào gạch với chữ nổi. Chất liệu đất sét mịn có lẫn ít hạt laterite nhỏ và đất sét trắng, đất được làm mịn nhưng làm không cẩn thận cho nên khi viên gạch vỡ ra thấy rõ các lỗ hổng bên trong thân gạch; trên 2 mặt viên gạch và đôi khi ở cả các cạnh viên gạch đều để lại dấu vết của kéo cắt đất; độ nung cao, cứng và đanh; thường có màu đỏ gạch hoặc hồng nhạt, đôi chỗ lẫn những vân đất sét trắng nhỏ. Loại gạch này mang đặc trưng chung của gạch Vĩnh Ninh trường về cả chất liệu, kích thước cũng như các kiểu dấu in chữ trên gạch từng phát hiện được ở nhiều di tích thời Trần khác như: Báo Ân (Vũ Quốc Hiền và nnk 2002), Hậu Lâu (Nguyễn Ngọc Chất 1999), 18 Hoàng Diệu (Tống Trung Tín (chủ biên) 2006), Thiên Trường (Nguyễn Quốc Hội, Nguyễn Xuân Năm 1998), Tam Đường (Ngô Thế Phong, Chu Văn Vệ, Phạm Vũ Sơn, Vũ Đức Thơm 2004)...
Loại 2: in các địa danh hành chính; dài 45cm - 50cm, rộng 23cm - 25cm, dày 7cm - 10cm; nặng 12-16kg; dấu in chìm vào gạch với chữ nổi hoặc chìm. Chất liệu đất sét mịn lẫn rất nhiều hạt laterite to nhỏ khác nhau; không để lại dấu vết của kéo cắt đất; độ nung cao, rất cứng, chắc và nặng; màu đỏ gạch hoặc xám.
Qua hơn 50 năm nghiên cứu, cho đến nay ở thành nhà Hồ đã sưu tầm được ít nhất trên 100 địa danh xã thôn (Bảng 1) in/khắc trên gạch chỉ nơi cung cấp gạch để xây dựng kinh đô, trong đó có cả những địa danh được sưu tầm từ những năm 1970 (Chu Quang Trứ (1976 : 65-70).
Bảng 1: Thống kê địa danh in/khắc trên gạch (Nguồn: Tác giả tổng hợp)
| TT | Chữ Hán | Phiên âm | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1. | 阿凌土橋 | A Lăng Thổ kiều | kiều¹ A Lăng Thổ |
| 2. | 安林社 | An Lâm xã | xã An Lâm |
| 3. | 安孫下 | An Tôn Hạ | (xã)² An Tôn Hạ |
| 4. | 安孫下社 | An Tôn Hạ xã | xã An Tôn Hạ |
| 5. | 安孫上社 | An Tôn Thượng xã | xã An Tôn Thượng |
| 6. | 安舍社 | An Xá xã | xã An Xá |
| 7. | 婆陀社 | Bà Đà xã | xã Bà Đà |
| 8. | 拜綴社[下]³ | Bái Chuyết xã [hạ] | xã Bái Chuyết [hạ] |
| 9. | 拜社 | Bái xã | xã Bái |
| 10. | 变場社 | Biến Trường xã | xã Biến Trường |
| 11. | 俸田法 | Bổng Điền pháp | Pháp⁴ Bổng Điền |
| 12. | 竿竹社 | Can Trúc xã | xã Can Trúc |
| 13. | 高舍社 | Cao Xá xã | xã Cao Xá |
| 14. | 吒社 | Cha xã | xã Cha |
| 15. | 真利社 | Chân Lị xã | xã Chân Lị |
| 16. | 制社 | Chế xã | xã Chế |
| 17. | 支耒坊 | Chi Lỗi phường | phường⁵ Chi Lỗi |
| 18. | 支耒社 | Chi Lỗi xã | xã Chi Lỗi |
| 19. | 古碑社 | Cổ Bi xã | xã Cổ Bi |
| 20. | 古帶社 | Cổ Đới xã | xã Cổ Đới |
| 21. | 古弘 ⁶ 社 | Cổ Hoằng xã | xã (huyện) Cổ Hoằng |
| 22. | 古雷縣茶利 | Cổ Lôi huyện Trà Lị | (xã) Trà Lị huyện Cổ Lôi |
| 23. | 古雷縣茶利社 | Cổ Lôi huyện Trà Lị xã | xã Trà Lị huyện Cổ Lôi |
| 24. | 古雷縣陳舍社 | Cổ Lôi huyện Trần Xá xã | xã Trần Xá huyện Cổ Lôi |
| 25. | 公場社 | Công Trường xã | xã Công Trường |
| 26. | 巨隊社 | Cự Đội xã | xã Cự Đội |
| 27. | 渠舍社 | Cừ Xá xã | xã Cừ Xá |
| 28. | 綱社 | Cương xã | xã Cương |
| 29. | 弋上社 | Dặc Thượng xã | xã Dặc Thượng |
| 30. | 延石社 | Diên Thạch xã | xã Diên Thạch |
| 31. | 多忙泥社 | Đa Mang Nê xã | xã Đa Mang Nê |
| 32. | 多忙泥社杲坊 | Đa Mang Nê xã Cảo phường | phường Cảo xã Đa Mang Nê |
| 33. | 忙泥社改坊 | Mang Nê xã Cải phường | phường Cải xã Mang Nê |
| 34. | 㐌孛上社 | Đà Bột Thượng xã | xã Đà Bột Thượng |
| 35. | 小㐌孛上社 | Tiểu Đà Bột Thượng xã | xã Tiểu Đà Bột Thượng |
| 36. | 大安貴 | Đại An Quý | (xã) Đại An Quý |
| 37. | 大舁橋社 | Đại Dư Kiều xã | xã Đại Dư Kiều |
| 38. | 大翁蘭社 | Đại Ông Lan xã | xã Đại Ông Lan |
| 39. | 小翁蘭社 | Tiểu Ông Lan xã | xã Tiểu Ông Lan |
| 40. | 大前社 | Đại Tiền xã | xã Đại Tiền |
| 41. | 陶舍坊 | Đào Xá phường | phường Đào Xá |
| 42. | 陶舍社 | Đào Xá xã | xã Đào Xá |
| 43. | 田代坊 | Điền Đại phường | phường Điền Đại |
| 44. | 条阮社 | Điều Nguyễn xã | xã Điều Nguyễn |
| 45. | 亭庄 | Đình trang | Trang⁷ Đình |
| 46. | 隊社 | Đội xã | xã Đội |
| 47. | 東山揚舍社 | Đông Sơn Dương Xá xã | xã Dương Xá [huyện] Đông Sơn |
| 48. | 東山縣黎阮舍社 | Đông Sơn huyện Lê Nguyễn Xá xã | xã Lê Nguyễn Xá huyện Đông Sơn |
| 49. | 東山縣光員亭 | Đông Sơn huyện Quang Viên đình | đình Quang Viên huyện Đông Sơn |
| 50. | 東山縣運[舍社] | Đông Sơn huyện Vận [Xá xã] | [xã] Vận [Xá] huyện Đông Sơn |
| 51. | 同营杜舍社 | Đồng Doanh Đỗ Xá xã | xã Đỗ Xá [huyện] Đồng Doanh |
| 52. | 凍社 | Đống xã | xã Đống |
| 53. | 洞偈社 | Động Kệ xã | xã Động Kệ |
| 54. | 江西塼 | Giang Tây chuyên | gạch (quân) Giang Tây |
| 55. | 江西軍 | Giang Tây quân | (gạch) quân Giang Tây |
| 56. | 何社 | Hà xã | xã Hà |
| 57. | 戶舍社 | Hộ Xá xã | xã Hộ Xá |
| 58. | 上戶社 | Thượng Hộ xã | xã Thượng Hộ |
| 59. | 下戶社 | Hạ Hộ xã | xã Hạ Hộ |
| 60. | 下郎 | Hạ Lang | [xã] Hạ Lang |
| 61. | 贤社 | Hiền xã | xã Hiền |
| 62. | 黃爭社 | Hoàng Tranh xã | xã Hoàng Tranh |
| 63. | 黃爭[舍社] | Hoàng Tranh [Xá xã] | [xã] Hoàng Tranh [Xá] |
| 64. | 弘下 | Hoằng Hạ | (xã) Hoằng Hạ |
| 65. | ?????????⁸ | Hương Nhị xã | xã Hương Nhị |
| 66. | 个稔唎社 | Kẻ Nẫm Lời xã | xã Kẻ Nẫm Lời |
| 67. | 个那下 | Kẻ Nưa Hạ | (xã] Kẻ Nưa Hạ |
| 68. | 个那社 | Kẻ Nưa xã | xã Kẻ Nưa |
| 69. | 可凜社 | Khả Lẫm xã | xã Khả Lẫm |
| 70. | 快州千冬社 | Khoái châu Thiên Đông xã | xã Thiên Đông Khoái châu |
| 71. | 仙侶縣郭社鄧廊 | Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng | làng Đặng xã Quách huyện Tiên Lữ |
| 72. | 鄧 | Đặng | (làng) Đặng |
| 73. | 百姓社 | La Bách Tính xã | xã La Bách Tính |
| 74. | [黑]社 | La [Hắc] xã | xã La [Hắc] |
| 75. | 羅木引 | La Mộc Dẫn | (xã) La Mộc Dẫn |
| 76. | 林川社 | Lâm Xuyên xã | xã Lâm Xuyên |
| 77. | 黎舍社 | Lê Xá xã | xã Lê Xá |
| 78. | 梁江橋社 | Lương Giang Kiều xã | xã Kiều (huyện) Lương Giang |
| 79. | 梁江忠社 | Lương Giang Trung xã | xã Trung (huyện] Lương Giang |
| 80. | 刘舍 | Lưu Xá | (xã) Lưu Xá |
| 81. | 麻羅可蘭社 | Ma La Khả Lan xã | xã Khả Lan (huyện) Ma La |
| 82. | 枚朝 | Mai Triều | (xã) Mai Triều |
| 83. | 木州阮舍社鄭村 | Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn | thôn Trịnh xã Nguyễn Xá Mộc châu |
| 84. | 每買下 | Mỗi Mãi Hạ | (xã) Mỗi Mãi Hạ |
| 85. | 每買上伴社 | Mỗi Mãi Thượng Bạn xã | xã Thượng Bạn (huyện) Mỗi Mãi |
| 86. | 美春范舍社 | Mỹ Xuân Phạm Xá xã | xã Phạm Xá (huyện) Mỹ Xuân |
| 87. | 午家社 | Ngọ Gia xã | xã Ngọ Gia |
| 88. | 阮舍社 | Nguyễn Xá xã | xã Nguyễn Xá |
| 89. | 牛欄巨渌社 | Ngưu Lan Cự Lục xã | xã Cự Lục (huyện) Ngưu Lan |
| 90. | 如來社 | Như Lai xã | xã Như Lai |
| 91. | 芮巨諭社 | Nhuế Cự Dụ xã | xã Nhuế Cự Dụ |
| 92. | 芮火 | Nhuế Hỏa | (xã) Nhuế Hỏa |
| 93. | 烏格社 | Ô Cách xã | xã Ô Cách |
| 94. | 沃戶社 | Ốc Hộ xã | xã Ốc Hộ |
| 95. | 潘舍廊 | Phan Xá làng | Làng⁹ Phan Xá |
| 96. | 分場社 | Phân Trường xã | xã Phân Trường |
| 97. | 片社 | Phiến xã | xã Phiến |
| 98. | 官舍坊 | Quan Xá phường | phường Quan Xá |
| 99. | 光沐社 | Quang Mộc xã | xã Quang Mộc |
| 100. | 光舍社 | Quang Xá xã | xã Quang Xá |
| 101. | 初社 | Sơ xã | xã Sơ |
| 102. | 謝舍 | Tạ Xá | (xã) Tạ Xá |
| 103. | 三帶州 | Tam Đới châu | Châu¹⁰ Tam Đới |
| 104. | 新橋社 | Tân Kiều xã | xã Tân Kiều |
| 105. | 細江 | Tế Giang | (huyện) Tế Giang |
| 106. | 寿祖社 口寿祖 | cạnh dọc: Thọ Tổ xã cạnh ngang: Khẩu Thọ Tổ | xã Thọ Tổ Khẩu Thọ Tổ (?) |
| 107. | 土位社 | Thổ Vị xã | xã Thổ Vị |
| 108. | 前[街]社 | Tiền [Nhai] xã | xã Tiền [Nhai] |
| 109. | 小福林坊 | Tiểu Phúc Lâm phường | phường Tiểu Phúc Lâm |
| 110. | 浨江縣巴[鲁]村 | Tống Giang huyện Ba [Thú] thôn | thôn Ba [Thú] huyện Tống Giang |
| 111. | 浨江縣陳舍社 | Tống Giang huyện Trần Xá xã | xã Trần Xá xã huyện Tống Giang |
| 112. | 趙社 | Triệu xã | xã Triệu |
| 113. | 郑舍社 | Trịnh Xá xã | xã Trịnh Xá |
| 114. | 中坊 | Trung phường | phường Trung |
| 115. | 中前橋 | Trung Tiền Kiều | (xã) Trung Tiền Kiều |
| 116. | 長曳社 | Trường Duệ xã | xã Trường Duệ |
| 117. | 長堞坊 | Trường Điệp phường | phường Trường Điệp |
| 118. | 祥安社洞白社入 | Tường An xã Động Bạch xã nhập | xã Tường An và xã Động Bạch |
| 119. | 宣光江[龍]縣 | Tuyên Quang Giang [Long] huyện | huyện Giang [Long] (trấn) Tuyên Quang |
| 120. | 宣光江渭龍州 | Tuyên Quang giang Vị Long châu | châu Vị Long giang¹¹ Tuyên Quang |
| 121. | 宣光鎮 › › 州 | Tuyên Quang trấn › › châu | châu › › trấn Tuyên Quang |
| 122. | 宣光鎮...¹² | Tuyên Quang trấn… | … trấn Tuyên Quang |
| 123. | 万貞社 | Vạn Trinh xã | xã Vạn Trinh |
| 124. | 文言社 | Văn Ngôn xã | xã Văn Ngôn |
| 125. | 永寕場 | Vĩnh Ninh trường | trường¹³ Vĩnh Ninh |
| 126. | 永寕盃社 | Vĩnh Ninh Bôi xã | xã Bôi (trường) Vĩnh Ninh |
| 127. | 永寕葉社 | Vĩnh Ninh Diệp xã | xã Diệp (trường) Vĩnh Ninh |
| 128. | 永寕頭寨社 | Vĩnh Ninh Đầu Trại xã | xã Đầu trại (trường) Vĩnh Ninh |
| 129. | 永寕和樂社 | Vĩnh Ninh Hòa Lạc xã | xã Hòa Lạc (trường) Vĩnh Ninh |
| 130. | 永寕水岩社 | Vĩnh Ninh Thuỷ Nham xã | xã Thủy Nham (trường) Vĩnh Ninh |
| 131. | 永寕陳舍社 | Vĩnh Ninh Trần Xá xã | xã Trần Xá(trường) Vĩnh Ninh |
| 132. | 永寕安 社 | Vĩnh Ninh Yên Định xã | xã Yên Định (trường) Vĩnh Ninh |
| 133. | 永寕 › 冬社 | Vĩnh Ninh › Đông xã | xã › Đông (trường) Vĩnh Ninh |
| 134. | 王廛 | Vương Triền | (xã) Vương Triền |
| 135. | 旧市 | Cựu Thị | (xã) Cựu Thị |
| 136. | 車唎 | Xa Lời | (xã) Xa Lời |
| 137. | 安 縣長浪社 | Yên Định huyện Trường Lãng xã | xã Trường Lãng huyện Yên Định |
| 138. | 安定縣... | Yên Định huyện… | … huyện Yên Định |
| 139. | 安朗東 | Yên Lãng Đông | (xã) Yên Lãng Đông |
Trên đây mới chỉ là những viên mà chúng tôi may mắn phát hiện được, chắc chắn sẽ còn nhiều hơn số địa danh trên bởi số gạch loại này còn lưu giữ trong nhân dân khá nhiều, cần tiếp tục điều tra, thu thập và thống kê.
Sự tương đồng về loại hình, chất liệu và kích thước nhưng khác nhau ở các địa danh gợi cho chúng tôi những suy đoán ban đầu: gạch xây các công trình kiến trúc trong thành nhà Hồ có thể được tập hợp từ nhiều địa phương khác nhau xung quanh khu vực xây thành. Các địa phương này được/bị phân bổ một số lượng gạch nào đó theo một kích thước chung. Mỗi địa phương có thể thuê một lò riêng, hoặc giả có hai hoặc nhiều địa phương cùng thuê một lò chung để hoàn thành chỉ tiêu. Dù là lò gạch nào thì trước khi nung địa phương đó đều phải khắc tên địa phương mình lên gạch.
Việc tìm hiểu nội dung chữ in/khắc trên gạch xây thành nhà Hồ có một ý nghĩa không nhỏ trong việc nghiên cứu một kinh đô cổ của người Việt. Công việc này hiện còn nhiều khó khăn do số gạch trong thành đã lưu tán và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau của nhân dân trong vùng. Hơn nữa, việc tra cứu địa danh thời kỳ này của chúng tôi hiện còn những hạn chế nhất định.
Bước đầu qua tìm hiểu địa danh tại địa phương, điều tra các truyền thuyết lưu truyền trong nhân gian, căn cứ vào một số công trình nghiên cứu về tên làng xã tại Thanh Hoá: Dư địa chí (Nguyễn Trãi toàn tập tân biên: 383-591), Đất nước Việt Nam qua các đời (Đào Duy Anh 1997), Tên làng xã Thanh Hoá (Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá 2000)... chúng tôi đặc biệt tập trung vào các khu vực xung quanh huyện Vĩnh Lộc để tìm hiểu và xác định các địa danh ghi trên gạch này (Bảng 2).
Bảng 2: Đối chiếu địa danh in/khắc trên gạch với hiện tại (Nguồn: Tác giả)
| Chữ trên gạch | Địa danh thời Trần-Hồ | Vị trí hiện nay | |
|---|---|---|---|
| 1. | 安孫下社 - *An Tôn Hạ xã (*xã An Tôn Hạ) | khu vực động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | làng Yên Tôn Hạ, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá¹⁴ |
| 2. | 安孫上社 - *An Tôn Thượng xã (*xã An Tôn Thượng) | khu vực động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | làng Yên Tôn Thượng, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 3. | 永寕場 - Vĩnh Ninh trường (trường Vĩnh Ninh) | thuộc huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 4. | 永寕盃社 - Vĩnh Ninh Bôi xã xã Bôi (trường) Vĩnh Ninh | xã Bôi, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 5. | 永寕葉社- Vĩnh Ninh Diệp xã xã Diệp (trường) Vĩnh Ninh | xã Diệp, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 6. | 永寕頭寨社- *Vĩnh Ninh Đầu Trại xã (*xã Đầu trại (trường) Vĩnh Ninh) | xã Đầu Trại, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 7. | 永寕和樂社 - Vĩnh Ninh Hòa Lạc xã xã Hòa Lạc (trường) Vĩnh Ninh | xã Hòa Lạc, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 8. | 永寕水岩社 - *Vĩnh Ninh Thuỷ Nham xã (*xã Thủy Nham (trường) Vĩnh Ninh) | xã Thuỷ Nham, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 9. | 永寕陳舍社 -Vĩnh Ninh Trần Xá xã (xã Trần Xá (trường) Vĩnh Ninh) | xã Trần Xá, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 10. | 永寕安 社 - *Vĩnh Ninh Yên Định xã (*xã Yên Định (trường) Vĩnh Ninh) |
xã Yên Định, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | Thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 11. | 永寕 › 冬社 - Vĩnh Ninh › Đông xã (xã › Đông (trường) Vĩnh Ninh) | xã › Đông, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá |
| 12. | 安 縣長浪社-*Yên Định huyện Trường Lãng xã (*xã Trường Lãng huyện Yên Định) |
xã Trường Lãng, huyện Yên Định, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá¹⁵ |
| 13. | 安定縣...- Yên Định huyện… (… huyện Yên Định) | huyện Yên Định, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá |
| 14. | 梁江橋社 - Lương Giang Kiều xã (xã Kiều (huyện) Lương Giang) | xã Kiểu, huyện Lương Giang, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá¹⁶ |
| 15. | 梁江忠社- Lương Giang Trung xã (xã Trung (huyện) Lương Giang) | xã Trung, huyện Lương Giang, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá |
| 16. | 古雷縣茶利社 - *Cổ Lôi huyện Trà Lị xã (*xã Trà Lị huyện Cổ Lôi) | xã Trà Lị, huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Đô | khu vực huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá¹⁷ |
| 17. | 古雷縣陳舍社 - Cổ Lôi huyện Trần Xá xã (xã Trần Xá huyện Cổ Lôi) | xã Trần Xá, huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Đô | khu vực huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá |
| 18. | 古弘 社 - Cổ Hoằng xã (xã (huyện) Cổ Hoằng) | thuộc huyện Cổ Hoằng, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá¹⁸ |
| 19. | 弘下 - Hoằng Hạ (xã) Hoằng Hạ | xã Hoằng Hạ, huyện Cổ Hoằng, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá |
| 20. | 東山揚舍社 - Đông Sơn Dương Xá xã (xã Dương Xá (huyện) Đông Sơn) | xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá¹⁹ |
| 21. | 東山縣黎阮舍社 - *Đông Sơn huyện Lê Nguyễn Xá xã (*xã Lê Nguyễn Xá huyện Đông Sơn) | xã Lê Nguyễn Xá, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá |
| 22. | 東山縣光員亭 - Đông Sơn huyện Quang Viên đình (đình Quang Viên huyện Đông Sơn) | trang Quang Viên, huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá |
| 23. | 東山縣運[舍社] - Đông Sơn huyện Vận [Xá xã]([xã] Vận [Xá] huyện Đông Sơn) | xã Vận [Xá], huyện Đông Sơn, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá |
| 24. | 个那下 - Kẻ Nưa Hạ (xã) Kẻ Nưa Hạ | xã Kẻ Nưa Hạ, huyện Nông Cống, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá |
| 25. | 个那社 - Kẻ Nưa xã (xã Kẻ Nưa) | xã Kẻ Nưa, huyện Nông Cống, trấn Thanh Đô | thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá²⁰ |
| 26. | 浨江縣巴[鲁]村 - Tống Giang huyện Ba [Thú] thôn (thôn Ba [Thú] huyện Tống Giang) | thôn Ba [Thú], huyện Tống Giang, trấn Thanh Đô | khu vực giáp giới huyện Nga Sơn và Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá²¹ |
| 27. | 浨江縣陳舍社 - Tống Giang huyện Trần Xá xã (xã Trần Xá xã huyện Tống Giang) | xã Trần Xá, huyện Tống Giang, trấn Thanh Đô | khu vực giáp giới huyện Nga Sơn và Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá |
| 28. | 細江 - Tế Giang ((huyện) Tế Giang) | [huyện] Tế Giang, trấn Thanh Đô | khu vực phía tây huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá²² |
| 29. | 快州千冬社 - Khoái châu Thiên Đông xã (xã Thiên Đông Khoái châu) | xã Thiên Đông, Khoái lộ thời Trần | thuộc 5 huyện Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ và Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên²³ |
| 30. | 仙侶縣郭社鄧廊 - *Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng (*làng Đặng xã Quách huyện Tiên Lữ) | làng Đặng, xã Quách, huyện Tiên Lữ, Khoái lộ | thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên²⁴ |
| 31. | 木州阮舍社鄭村 - *Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn (*thôn Trịnh xã Nguyễn Xá Mộc châu) | thôn Trịnh, xã Nguyễn Xá, Mộc châu, phủ Thiên Hưng | thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và vùng phía bắc sông Đà của tỉnh Hòa Bình²⁵ |
| 32. | 三帶州 - Tam Đới châu châu Tam Đới | châu Tam Đới, lộ Tam Đới | khu vực ngã ba Việt Trì gồm các huyện: Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc²⁶ |
| 33. | 宣光江渭龍州 -Tuyên Quang giang Vị Long châu (châu Vị Long giang Tuyên Quang) | châu Vị Long, giang (trấn) Tuyên Quang | thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang²⁷ |
| 34. | 宣光江[龍]縣 - Tuyên Quang Giang [Long] huyện (huyện Giang [Long] (trấn) Tuyên Quang) | huyện Giang [Long], [trấn] Tuyên Quang | thuộc tỉnh Tuyên Quang |
| 35. | 宣光鎮 › › 州 - Tuyên Quang trấn › › châu (châu › › trấn Tuyên Quang) | châu › › trấn Tuyên Quang | thuộc tỉnh Tuyên Quang |
Kết quả bước đầu còn rất khiêm tốn, mới xác nhận được 35/139 địa danh thuộc khu vực 8 huyện của tỉnh Thanh Hoá: Vĩnh Lộc (11 địa danh), Yên Định (2 địa danh), Thọ Xuân (2 địa danh), Thiệu Hóa (2 địa danh), Đông Sơn (4 địa danh), Hoằng Hoá (2 địa danh), Nông Cống (2 địa danh) và khu vực giáp giới hai huyện Nga Sơn và Hà Trung (2 địa danh). Trong đó đặc biệt là sự xuất hiện tần số cao các địa danh thuộc khu vực huyện Vĩnh Lộc ngày nay.
Ngoài khu vực thành nhà Hồ, một số viên gạch ghi các địa danh khác, như: 2 địa danh thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay; 1 địa danh thuộc khu vực huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và vùng phía bắc sông Đà của tỉnh Hòa Bình; 1 địa danh thuộc khu vực xung quanh ngã ba Việt Trì thuộc hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc; 1 địa danh thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và 2 địa danh khác trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang (Bảng 3).
Bảng 3: Tổng hợp số liệu địa danh hiện đại đã xác định được (Nguồn: Tác giả)
| TT | Tỉnh | Huyện | Số lượng |
|---|---|---|---|
| 1. | Thanh Hóa | Vĩnh Lộc | 11 |
| Đông Sơn | 4 | ||
| Yên Định | 2 | ||
| Thọ Xuân | 2 | ||
| Thiệu Hóa | 2 | ||
| Hoằng Hoá | 2 | ||
| Nông Cống | 2 | ||
| Nga Sơn và Hà Trung | 2 | ||
| Thạch Thành | 1 | ||
| 10. | Hưng Yên | Tiên Lữ | 1 |
| Khoái Châu | 1 | ||
| 12. | Sơn La | Mộc Châu | 1 |
| 13. | Phú Thọ và Vĩnh Phúc | chưa xác định | 1 |
| 14. | Tuyên Quang | Chiêm Hóa | 1 |
| chưa xác định | 2 |
Trong số 139 địa danh trên, số địa danh thuộc đơn vị xã chiếm số lượng nhiều nhất (71%), sau đó là các đơn vị phường, châu… Qua đó có thể thấy, xã là đơn vị chính, có vai trò lớn nhất trong việc sản xuất gạch cung cấp cho việc xây thành nhà Hồ. Đó là chưa kể số địa danh xã, phường mà chúng tôi chưa đọc hết hoặc đọc không đầy đủ (khoảng 50 địa danh khác). Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng các loại hình đơn vị hành chính xuất hiện trên gạch (Bảng 4).
Bảng 4: Tổng hợp số liệu loại hình đơn vị hành chính (Nguồn: Tác giả)
| TT | Loại hình đơn vị | Số lượng | TT | Loại hình đơn vị | Số lượng |
|---|---|---|---|---|---|
| 1. | trấn | 2 | 7. | thôn | 2 |
| 2. | trường | 1 | 8. | làng | 2 |
| 3. | giang | 1 | 9. | trang | 1 |
| 4. | châu | 6 | 10. | kiều | 1 |
| 5. | xã | 96 | 11. | pháp | 1 |
| 6. | phường | 9 | 12. | đình | 1 |

Bản dập 1: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2- Ghi địa danh sản xuất.
Hiện vật khảo sát tại Thành Nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 2: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất.
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 3: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 4: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 5: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 6: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 7: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 9: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 10: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 11: Dấu chữ Hán-Nôm in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 12: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 13: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 14: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010


Bản dập 15 Bản dập 16

Bản dập 17: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 18: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 19: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010

Bản dập 20: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010


Bản dập 23: Dấu chữ Hán in trên gạch bìa kiểu 2 - Ghi địa danh sản xuất
Hiện vật khảo sát tại thành nhà Hồ các năm 2004-2010. (Nguồn: các tác giả tổng hợp)
Nhận xét
1. Trong số các di tích kiến trúc thời Trần-Hồ, thành nhà Hồ là di tích có nhiều gạch in/khắc địa danh nhất, số lượng lớn, chủng loại phong phú. Nhóm gạch có chữ Hán - Nôm ở thành nhà Hồ có một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu về nguồn gốc vật liệu xây dựng thành.
Từ những địa danh in trên gạch, chúng ta có thể thấy rằng gần như tuyệt đại bộ phận gạch dùng để xây thành là do nhân dân địa phương sản xuất đóng góp, nhóm này có niên đại chính xác khoảng 1397-1403. Việc các địa phương đóng góp gạch xây thành được phản ánh phần nào trong chính sử: năm 1401, “Hán Thương hạ lệnh cho các lộ nung gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây, ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá” (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 40a).
Nhóm gạch thứ hai gồm gạch Vĩnh Ninh trường và các loại khác như: Khoái châu Thiên Đông xã; Tiên Lữ huyện Quách xã Đặng làng; Mộc châu Nguyễn Xá xã Trịnh thôn; Tam Đới châu và Tuyên Quang giang Vị Long châu. Những viên gạch loại này vốn là gạch các địa phương sản xuất và dùng để xây dựng ở các cung điện của Thăng Long, đến năm 1397 được đưa vào xây dựng thành nhà Hồ và Ly Cung²⁸.
Đây chính là cách giải quyết và sử dụng vật liệu linh hoạt để hình thành kinh đô mới trong một thời gian rất ngắn. Tất nhiên, việc hoàn thiện thành Tây Đô trong thời gian ngắn như sử chép có thể là khoảng thời gian xây dựng gấp rút khi nguyên vật liệu đã được chuẩn bị sẵn sàng và chủ yếu chỉ xây dựng các công trình quan trọng như: tường thành đá, các cổng thành, một số công trình quan trọng trong nội thành... Còn việc hoàn thành công trình cơ bản là trong hơn 1 năm, từ mùa xuân năm 1397 đến ngày 15 tháng 3 năm 1398 khi Hồ Quý Ly chính thức rời đô từ Ly Cung vào thành mới và làm lễ khánh thành (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 32b), sau đó vẫn còn tiếp tục hoàn thiện hơn nữa cho đến năm 1403 như: năm 1399 trồng tre gai ở xung quanh thành (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 36a); năm 1402 đắp sửa đường thiên lý (Đại Việt sử ký toàn thư: 40b); năm 1402 đắp đàn Giao ở Đốn Sơn (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 41b-42a); năm 1403 dựng Đông Thái Miếu và Tây Thái Miếu (Đại Việt sử ký toàn thư: tờ 43b)...
2. Những địa danh in trên gạch chính là nguồn tư liệu xác thực cho việc nghiên cứu vật liệu và các vùng sản xuất vật liệu kiến trúc thời Trần-Hồ. Những viên gạch Vĩnh Ninh trường xuất hiện ở một số di tích thuần Trần cho thấy, ít nhất đến đầu thời Trần thì loại gạch này mới phổ biến. Trước đấy chưa hề có gạch ghi địa danh sản xuất (nếu không tính đến Giang Tây chuyên được cho là gạch do đội quân Giang Tây, Trung Quốc sản xuất hồi thế kỷ IX). Sau đó, suốt thời Trần tại hầu hết các cung điện, thành quách, lăng tẩm, chùa tháp... đều có sự xuất hiện ít nhiều gạch Vĩnh Ninh trường. Đó là một trong những cơ sở quan trọng để triều Hồ yêu cầu các xã thuộc vùng này sản xuất gạch xây dựng kinh đô. Chính vì vậy bên cạnh phát hiện gạch Vĩnh Ninh trường còn thấy nhiều viên gạch ghi cụ thể đến đơn vị xã của trường Vĩnh Ninh, như xã Bôi, xã Diệp, xã Hòa Lạc, xã Đầu Trại, xã Trần Xá, xã Thủy Nham, xã Yên Định và nhiều đơn vị khác cũng thuộc địa danh Vĩnh Ninh thời Trần. Từ đó trường Vĩnh Ninh trở thành một trung tâm sản xuất gạch lớn nhất thời Hồ, mà hơn 100 địa danh của khu vực này xuất hiện trên gạch đã chứng minh điều đó. Đây rõ ràng là sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu mà chúng tôi tạm gọi là trào lưu Vĩnh Ninh trường.
3. Sự nở rộ các con dấu ghi tên địa phương sản xuất gạch cho thấy bước phát triển mới của một phong cách kỹ thuật vốn có từ thời Đinh – tiền Lê.
Gạch có khắc chữ thời Đinh, Tiền Lê và thời Lý chủ yếu khắc niên đại sản xuất gạch gắn liền quốc hiệu, cũng có thể gắn liền với triều vua như: Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư (Tống Trung Tín, Trần Anh Dũng 1998; Nguyễn Văn Đoàn, Đỗ Trần Cư, Lê Hoài Anh 2010) và 18 Hoàng Diệu (Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí 2010: 88, ảnh 22); Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo ở Phật Tích (Viện Khảo cổ học 2010), Tường Long (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 2003) và 18 Hoàng Diệu (Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí 2010: 99, ảnh 35); Lý gia đệ tam đế Chương Thánh Gia Khánh thất niên tạo ở Phật Tích (hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Bắc Ninh) và chùa-đền Bà Tấm (Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Quang Huy, Lê Hoài Anh 2006: 97, bản dập 1); Lý gia đệ tứ đế Long Phù Nguyên Hóa ngũ niên tạo ở Chương Sơn (Cao Xuân Phổ 1968) và Long Đọi Sơn (Ngô Thế Phong, Nguyễn Văn Đoàn, Lê Văn Chiến, Chu Văn Vệ 2002: ảnh 34, bản dập 19a-b) …
Nhưng đến thời Trần, bên cạnh việc khắc niên đại triều vua trên gạch như: Hưng Long thập nhị niên ở chùa Báo Ân (Ngô Thế Bách (2005: ảnh 1-2, bản dập 1; Nguyễn Doãn Minh 2005: 344); Hưng Long thập tam niên ở tháp Phổ Minh (Nguyễn Quốc Hội, Nguyễn Xuân Năm (1998: 350-351; Hồ Thọ (1990: 138-139) … thì một số lượng lớn gạch ghi tên địa danh/khu lò sản xuất gạch, trong đó nổi tiếng nhất và xuất hiện ở nhiều công trình kiến trúc nhất phải kể đến gạch Vĩnh Ninh trường (như trên đã trình bày). Ngoài ra, xung quanh khu vực Vĩnh Ninh còn có nhiều địa phương khác sản xuất gạch mà cho đến nay mới chỉ tìm thấy các loại gạch trên tại khu vực thành nhà Hồ như An Tôn thượng xã; Đông Sơn huyện, Lê Nguyễn Xá xã và nhiều địa danh khác. Ngoài khu vực trường Vĩnh Ninh, thời Trần còn có một số lò gạch khác với các sản phẩm như gạch Tuyên Quang giang Vị Long châu và Tuyên Quang trấn... ở thành nhà Hồ; gạch Đại Thông độ và Đại Thông độ ông ở Thăng Long (Đỗ Văn Ninh (2008: 119). Việc ghi rõ địa danh làng xã sản xuất trên gạch, ngoài chức năng ban đầu để kiểm kê số lượng giao/nộp giữa chính quyền trung ương và địa phương, đã khởi tạo và phát triển một khuynh hướng mới trong sản xuất sản phẩm thủ công nghiệp: sản phẩm gắn liền thương hiệu. Về điều này, tài liệu khảo cổ học minh chứng bằng sự xuất hiện một số trường hợp tương tự trên đồ gốm men thời Trần như Thiên Trường và Thiên Trường phủ chế (Bùi Minh Trí, Trương Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Anh 2008: 439-440).
Đến thời Lê sơ, ngoài các thương hiệu gắn liền địa danh như Thu Vật huyện Cá Lăng hương, Thu Vật huyện Mộc Độc hương, Thu Vật huyện Nhân Khảm hương, Thu Vật huyện Tha Ẩm hương, Thu Vật huyện Thu Vật hương, Thu Vật huyện Thùy Đinh hương (Đỗ Văn Ninh 2008: 120; Nguyễn Đình Chiến 2008: 391-392; Tăng Bá Hoành, Đặng Đình Thể, Nguyễn Duy Cương 2000: 476-477; Nguyễn Văn Quang 2004: 642-643) … vẫn tiếp tục được in/khắc trên gạch, thì việc ghi tên các đội quân như Tĩnh Ba quân và Hữu quân ở Lam Kinh (Nguyễn Văn Đoàn 2004: 80-112); Tráng Phong quân, Dương Vũ quân và Vũ Kỵ quân ở 18 Hoàng Diệu (Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí 2010: 163; Tống Trung Tín (chủ biên) 2006: 48) … là chủ yếu. Theo chúng tôi sự thay đổi này phần nhiều do tính chất sản xuất thay đổi, từ các lò nhân gian đổi thành các lò quan sản xuất, trường hợp này giống như chữ ghi Trường Lạc khố và Trường Lạc ở 18 Hoàng Diệu (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2004: 111, ảnh b-c) … trên đồ gốm tráng men thời Lê sơ.
4. Những chữ Hán-Nôm trên gạch ở thành nhà Hồ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu địa danh thời Trần-Hồ. Ví dụ địa danh 忙泥社改坊 nên đọc là Mang Nê xã cải phường (nghĩa là: xã Mang Nê đổi thành phường) hay đọc là Mang Nê xã Cải phường (nghĩa là: phường Cải xã Mang Nê). Nếu căn cứ theo địa danh 多忙泥社杲坊 đọc là Đa Mang Nê xã Cảo phường (nghĩa là: phường Cảo xã Đa Mang Nê) thì cách đọc Mang Nê xã Cải phường (nghĩa là: phường Cải xã Mang Nê) có nhiều khả năng hợp lý hơn. Nếu như thế, sẽ có một gợi ý rằng, thời Trần-Hồ phường có thể là đơn vị cấp dưới của xã! Điều này, chúng tôi cho rằng cần có thêm các cứ liệu khác mới có thể quả quyết được.
5. Chữ Hán-Nôm trên gạch ở thành nhà Hồ còn có ý nghĩa trong việc nghiên cứu ấn triện, thư pháp và văn tự thời Trần-Hồ. Một ví dụ như chữ THỔ (土) trong các con dấu này thường có thêm dấu chấm ở phía trên bên phải (
).
Chú thích
1. Theo Hoàng Văn Lâu, Cảnh Tuệ Linh (2002a): Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2, quyển thượng, Viện Văn học Đại học Trung Chính và Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Gia Nghĩa-Hà Nội, tr. 129-142: trên tấm bia Sùng Quang tự chung (崇光寺鐘) có đơn vị hành chính kiều: Hồng lộ Ma Lãng kiều Ỷ Lan xã, có khả năng kiều là đơn vị hành chính cấp trên của xã.
2 Chữ trong () là chữ chúng tôi thêm vào cho rõ nghĩa.
3. Chữ trong [] là chữ đọc không rõ ràng.
4. Có thể pháp là một đơn vị hành chính thời Trần.
5. Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, bản dịch của Phan Huy Tiếp, hiệu đính và chú thích Hà Văn Tấn, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản, Hà Nội, 2001, tr. 383-591, thì phường là đơn vị hành chính khá phổ biến trực thuộc huyện, ví dụ huyện Vĩnh Ninh thời Trần có 1 phường.
6. Mỗi ký hiệu là một chữ không đọc được.
7. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 383-591: trang là đơn vị hành chính khá phổ biến trực thuộc huyện, ví dụ huyện Đông Sơn thời Trần có 1 trang.
8. Chu Quang Trứ (1976): “Thành nhà Hồ (Thanh Hóa)”, Khảo cổ học (20), tr. 66, tác giả không viết chữ Hán.
9 Có thể là đơn vị làng cũng phải đóng gạch nộp xây thành.
10. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 383-591: châu là đơn vị hành chính tương đương huyện.
11. Theo Phan Văn Các, Claudine Salmon (1998): Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1, École française d'Extrême-Orient và Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Paris-Hà Nội, tr. 97: châu Vị Long nay thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
12. Mỗi ký hiệu ... là hai chữ trở lên không đọc được.
13. Thời Trần có đơn vị hành chính là trường, giang, và hương, xem thêm Nguyễn Đình Chiến (1980): “Bài minh trên chùa Bình Lâm (Hà Tuyên) đời Trần Anh Tông”, Khảo cổ học (4), tr. 32-45 và Nguyễn Đình
14 Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 152: huyện Vĩnh Lộc đời Trần về trước gọi là huyện Vĩnh Ninh. Hiện có huyện Vĩnh Lộc ở miền Bắc tỉnh Thanh Hoá trên tả ngạn sông Mã.
15 Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 152: huyện Yên Định có từ cuối thời Trần.
16 Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 153: huyện Lương Giang đời Trần ở hai bên bờ sông Lương (sông Chu) tương đương vị trí huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
17 Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 152: huyện Cổ Lôi từ đời Trần trở về trước gọi là huyện Lôi Dương, về mặt địa giới giống như huyện Thọ Xuân ngày nay, ở phía Tây Bắc huyện Đông Sơn và có thể bao gồm cả một phần đất huyện Thường Xuân.
Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 548: huyện Lôi Dương thời Trần là huyện Cổ Lôi, thời Lê đổi tên là huyện Lôi Dương thuộc phủ Thiệu Thiên. Hiện nay là đất huyện Thọ Xuân, vùng trên Bái Thượng.
18. Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 152: huyện Cổ Hoằng có từ thời Trần.
19. Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 152: huyện Đông Sơn bắt đầu có tên huyện từ thời Trần, hiện có huyện Đông Sơn ở phía Bắc thành phố Thanh Hoá.
20. Làng Cổ Định (trước gọi là Cổ Ninh, tục gọi là Kẻ Nưa) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
21. Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 154: Huyện Tống Giang đời Trần nằm bên bờ sông Tống tương đương với miền bắc huyện Nga Sơn và miền đông bắc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
22. Theo Đào Duy Anh (1997): Đất nước Việt Nam qua các đời, sđd, tr. 153: Huyện Tế Giang đời Trần nằm bên bờ sông Bái (sông Bưởi) tương đương với miền tây huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
23. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 523.
24. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 524.
25. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 539.
26. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, sđd, tr. 515.
27. Theo Phan Văn Các, Claudine Salmon (1998): Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1, sđd, tr. 97.
28. Đại Việt sử ký toàn thư, BKTT, q.VIII, sđd, tờ 31a-31b có ghi việc: Hành khiển đồng tri Đại tông chính tự Lương Nguyên Bưu dỡ gạch ngói, gỗ lớn ở các cung điện Thuỵ Chương, Đại An giao hết cho các châu Từ Liêm và Nam Sách chở tới kinh đô mới, gặp bão chìm đắm mất quá nửa. Xem thêm Phạm Như Hồ, Tống Trung Tín (1980): “Ly Cung (Thanh Hóa)”, Khảo cổ học (4), tr. 46-60 và Tống Trung Tín (1981): “Những hiện vật điêu khắc ở Ly Cung (Thanh Hóa)”, Khảo cổ học (1), tr. 49-63.
TÀI LIỆU DẪN
BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 2003. Cổ vật Việt Nam. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội: ảnh 376.
BAN NGHIÊN CỨU VÀ BIÊN SOẠN LỊCH SỬ THANH HÓA 2000. Tên làng xã Thanh Hoá, tập I, Nxb Thanh Hoá, Thanh Hoá.
BÙI MINH TRÍ, TRƯƠNG HỮU NGHĨA, NGUYỄN VĂN ANH 2008. Bát "Thiên Trường" ở bảo tàng Guimet (Pháp). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2007. Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội: 439-440.
CAO XUÂN PHỔ 1968. Báo cáo khai quật di tích Ngô Xá (xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà). Tư liệu Viện Khảo cổ học, ký hiệu Hs 62.
CHU QUANG TRỨ 1976. Thành nhà Hồ (Thanh Hóa). Khảo cổ học, số 20: 65-70.
Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản - mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), bản dịch của Hoàng Văn Lâu 2000, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, , tập 2, BKTT, q.VIII, tờ 28b, 32b, 36ª, 40ª, 40b, 41b-42ª, 43b.
ĐÀO DUY ANH 1997 Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hoá, Huế: .
ĐẶNG HỒNG SƠN 2005. Chữ Hán trên gạch ở thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc - Thanh Hoá). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 679-685.
ĐẶNG HỒNG SƠN 2008. Gạch xây dựng thời Trần-Hồ ở Thành Nhà Hồ, Nam Giao và Ly Cung. Khảo cổ học, số 3: 53-69.
ĐỖ VĂN NINH 2008. Di vật gạch ngói xây dựng thành lũy, cung điện Thăng Long. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Nhận diện giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 5 năm nghiên cứu so sánh (2004-2008). Tư liệu Viện Khảo cổ học, Hà Nội: 119-120.
HỒ THỌ 1990. Sự thật trong lòng tháp Phổ Minh (Hà Nam Ninh). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1987. Viện Khảo cổ học - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản, Hà Nội: 138-139.
HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 2004. Hoàng thành Thăng Long phát hiện khảo cổ học. Đặc san Xưa&Nay, Hà Nội: 111, ảnh b-c.
LÊ THỊ THU TRANG, NGUYỄN VĂN LONG, ĐẶNG HỒNG SƠN 2011. Phát hiện thêm địa danh trên gạch ở thành nhà Hồ (Thanh Hóa). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2010. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 493-496.
NGHÔ THẾ BÁCH 2005. Sưu tập hiện vật ở di tích chùa Báo Ân (Gia Lâm, Hà Nội) khai quật đợt II - năm 2003, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân lịch sử, tư liệu Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, ảnh 1-2, bản dập 1.
NGÔ THẾ PHONG, NGUYỄN VĂN ĐOÀN, LÊ VĂN CHIẾN, CHU VĂN VỆ 2002. Báo cáo kết quả điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học di tích chùa Long Đọi Sơn - Duy Tiên - Hà Nam năm 2001. Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh 34, bản dập 19a-b.
NGÔ THẾ PHONG, CHU VĂN VỆ, PHẠM VŨ SƠN, VŨ ĐỨC THƠM 2004. Điều tra và khai quật khảo cổ học khu di tích Tam Đường (Hưng Hà - Thái Bình). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 358-361.
NGUYỄN DOÃN MINH 2005. Viên gạch có niên hiệu "Hưng Long thập nhị niên". Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 344.
NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN 2008. Gạch "Thu Vật huyện". Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2007. Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội: 391-392.
NGUYỄN NGỌC CHẤT 1999. Vật liệu kiến trúc ở di tích Hậu Lâu (hố II), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân lịch sử, tư liệu Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, ảnh 5, h.2; bản dập 3, h.1.
NGUYỄN QUỐC HỘI, NGUYỄN XUÂN NĂM 1998. Những viên gạch thời Trần có in nổi chữ Hán. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 350-351.
Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II: Dư địa chí, bản dịch của Phan Huy Tiếp, hiệu đính và chú thích Hà Văn Tấn 2000, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản, Hà Nội: 383-591.
NGUYỄN VĂN ĐOÀN 2004. Hệ thống vật liệu kiến trúc ở di tích Lam Kinh (Thanh Hóa). Khảo cổ học, số 6: 80-112.
NGUYỄN VĂN ĐOÀN, ĐỖ TRẦN CƯ, LÊ HOÀI ANH 2010. Báo cáo kết quả điều tra, thám sát, khai quật khảo cổ học di tích cố đô Hoa Lư (xã Trường Yên - Hoa Lư - Ninh Bình). Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh 223-231. Hà Nội.
NGUYỄN VĂN ĐOÀN, NGUYỄN QUANG HUY, LÊ HOÀI ANH 2006. Kết quả khai quật di tích chùa -đền Bà Tấm (Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội) - năm 2005. Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 2005, Hà Nội: 97, bản dập 1.
NGUYỄN VĂN QUANG 2004. Về những viên gạch thời Trần ở Thu Vật (Yên Bái) dùng xây chùa Quang Minh (Hải Dương). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 642-643.
TĂNG BÁ HOÀNH, ĐẶNG ĐÌNH THỂ, NGUYỄN DUY CƯƠNG 2000. Khai quật di tích chùa Quang Minh, huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: 476-477.
TỐNG TRUNG TÍN (chủ biên) 2006. Hoàng thành Thăng Long, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội: 47.
TỐNG TRUNG TÍN, TRẦN ANH DŨNG 1998. Báo cáo thám sát, khai quật khảo cổ học khu di tích cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Tư liệu Viện Khảo cổ học, ký hiệu Hs 399.
TỐNG TRUNG TÍN, BÙI MINH TRÍ 2010. Thăng Long Hà Nội: Lịch sử nghìn năm từ lòng đất, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
VIỆN KHẢO CỔ HỌC 2010. Báo cáo kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học móng tháp thời Lý tại chùa Phật Tích (Bắc Ninh) năm 2009. Tư liệu Viện Khảo cổ học, ảnh 43-44. Hà Nội.
VŨ QUỐC HIỀN, NGÔ THẾ PHONG, NGUYỄN VĂN ĐOÀN, LÊ VĂN CHIẾN, TRẦN MINH NHẬT, NGUYỄN DOÃN MINH 2002. Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật di tích Báo Ân (Dương Quang - Gia Lâm - Hà Nội) năm 2002. Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh 39d. Hà Nội,
ABOUT LOCATION NAMES ON BUILDING BRICKS
FROM THÀNH NHÀ HỒ (THANH HÓA)
Đặng Hồng Sơn, Lê Thu Trang, Nguyễn Văn Long
Bricks with Hán - Nôm characters were found a lot in the area of Thành Nhà Hồ (Citadel of Hồ dynasty).They include two types based on materials and sizes: Vĩnh Ninh Trường (Vĩnh Ninh school) bricks and bricks from other locations.
So far, over 100 names of hamlets and communes have been found on the bricks indicating their production places that provided materials for the construction of the imperial city during 1397-1403. These locations are mainly some districts of Thanh Hóa province, including Vĩnh Lộc district where provided the most.
Vĩnh Ninh Trường (Vĩnh Ninh school) bricks and some other types, which had been supplied by some local areas for the construction of palaces in Thăng Long Imperial Citadel previously, were used to build Thành Nhà Hồ in 1397. Van Ninh school was actually a manufacturing centre of the Trần - Hồ period bricks and can be regarded as a famous brand for brick production at that time
Nguồn: bài của Viện Khảo cổ học trên website khaocohoc.vass.gov.vn (mục Tư liệu nghiên cứu), đăng ngày 24/06/2026 — xem bài gốc.
Về Nguồn đăng lại nguyên văn từ nguồn công khai trên website khaocohoc.vass.gov.vn, chưa có xác nhận của tác giả. Tác giả muốn gỡ, xin dùng nút Báo cáo trên trang này — Về Nguồn sẽ gỡ ngay.
- Thời kỳ
- Hồ
Nguồn tham khảo(1)
- VỀ CÁC ĐỊA DANH TRÊN GẠCH XÂY THÀNH NHÀ HỒ (THANH HÓA) — Đặng Hồng Sơn và nnk (2012), Tạp chí Khảo cổ họcTạp chí, bài nghiên cứu Liên kết
Thảo luận(0)
Đăng nhập để tham gia thảo luận.
Chưa có bình luận nào.
社 - *Vĩnh Ninh Yên Định xã (*xã Yên Định (trường) Vĩnh Ninh)
縣長浪社-*Yên Định huyện Trường Lãng xã (*xã Trường Lãng huyện Yên Định)