Bỏ qua, tới nội dung chính

Sản phẩm · Mỹ thuật, minh hoạ

Ảnh chụp tại trại giam Hà Nội [Hỏa Lò], vụ Hà Thành Đầu Độc, sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên [tên thật Nguyễn Văn Tuyên], cụ Hạ sĩ Cai [tên thật là Nguyễn Duc? số quân 643], cụ phụ…

Ảnh chụp tại trại giam Hà Nội [Hỏa Lò], vụ Hà Thành Đầu Độc, sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên [tên thật Nguyễn Văn Tuyên], cụ Hạ sĩ Cai [tên thật là Nguyễn Duc? số quân 643], cụ phụ bếp Vũ Văn Thuận hiên ngang rời trại giam để đến nơi hành quyết.

Nét Xưa
Ảnh chụp tại trại giam Hà Nội [Hỏa Lò], vụ Hà Thành Đầu Độc, sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên [tên thật Nguyễn Văn Tuyên],  cụ Hạ sĩ Cai [tên… (ảnh phục dựng)
Ảnh: Ảnh chụp tại trại giam Hà Nội [Hỏa Lò], vụ Hà Thành Đầu Độc, sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên [tên thật Nguyễn Văn Tuyên], cụ Hạ sĩ Cai [tên… (ảnh phục dựng) — Phục dựng, tô màu: Nét Xưa (Facebook) — có dùng công nghệ AI

Ảnh chụp tại trại giam Hà Nội [Hỏa Lò], vụ Hà Thành Đầu Độc, sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên [tên thật Nguyễn Văn Tuyên], cụ Hạ sĩ Cai [tên thật là Nguyễn Duc? số quân 643], cụ phụ bếp Vũ Văn Thuận hiên ngang rời trại giam để đến nơi hành quyết.
--------------------------------
Le Cuisinier empoisonneur HAI-HIEN et le brigadier Caï 643 sortent de la prison pour aller au supplice.
-------------------------------
Hà Thành đầu độc là vụ mưu sát và binh biến trong hàng ngũ đầu bếp và binh lính người Việt Nam phục vụ cho quân Pháp đóng ở thành Hà Nội diễn ra ngày 27 tháng 6 năm 1908, với mục địch nhằm đầu độc quân Pháp để chiếm Hà Nội, thêm sự tiếp ứng và chỉ đạo từ bên ngoài của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, cùng với sự tham gia của Phan Bội Châu trong việc vạch kế hoạch để tạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi người Pháp.
Lúc này, các sĩ phu yêu nước đã thấy được là đấu tranh bằng con đường hòa bình, khai dân trí, kết hợp với đấu tranh bằng bạo động để giải phóng đất nước, nên một số sĩ phu đã đội lốt thầy bói, thầy tướng để đi vào các đền thờ để thực hiện bói toán cầu cơ, xen lồng với việc tuyên truyền. Hà Nội là một trọng điểm tuyên truyền, Phố Cửa Nam nhộn nhịp đủ càng tầng lớp người qua lại, họ là binh lính, cai đội, đầu bếp, người bán hàng rong.
Qua nhiều lần tiếp xúc với các thầy tướng số, mối quan hệ đã trở nên thân mật với một số binh lính thuộc pháo đội công vụ, trung đoàn 4 pháo binh, từ chỗ thân mật còn làm nhận thức được sự đối xử tàn tệ, bất bình đẳng của người Pháp đối với binh sĩ hạ sĩ quan người Việt.
Nhiều cuộc họp bí mật đã diễn ra, chọn ra và tổ chức các nhân vật nội ứng tại tại nhà thầy tướng Nguyễn Văn Phúc ở phố hàng Buồm và nhà 20 phố cửa Nam.
Cuộc binh biến đã bị hoãn nhiều lần. Lần thứ nhất ấn định là ngày 15 tháng 11 năm 1907. Lần thứ 2 ấn định là ngày 16 tháng 5 năm 1908. Lần thứ 3 ấn định hạ tuần tháng 6 năm 1908.
Ngày 24 tháng 6 năm 1908, Thiếu tướng De Nays Candau, chỉ huy trưởng pháo binh Đông Dương, nhận được một thư nặc danh nói rằng có âm mưu binh biến ở Hà Nội, có cả thường dân lẫn quân nhân người Việt của nhiều đơn vị tham gia, mà những người cầm đầu phần nhiều thuộc pháo đội công vụ và một viên Cai thuộc trung đoàn 4 Pháo binh.
Cùng thời gian này trung uý Delmont Bebet, pháo đội trưởng công vụ đã nhận được báo cáo về một viên đội khả nghi thuộc pháo đội này và một viên cai thuộc trung đoàn 4 Pháo binh.
Thống Sứ Bắc Kỳ Louis Jules Morel ra lệnh mở cuộc điều tra công khai. Thấy bị động nên tất cả đồng ý hành động gấp rút, nếu không sẽ bị bắt cả.
Lực lượng làm binh biến là các bồi bếp và binh lính người Việt thuộc trung đội pháo thủ Hà Nội nằm trong trung đoàn pháo binh bảo vệ thành Hà Nội của Pháp. Đứng đầu nhóm này là bếp Hiên, còn gọi là Hai Hiên, cùng với bếp Xuân, bếp Nhiếp, Đặng Đình Nhân tức "đội Nhân" [cai đội], Nguyễn Trí Bình, Dương Bé,... tất cả có trên 10 người. Nhóm có nhiệm vụ nội ứng bên trong: đầu độc 2.000 binh lính Pháp thuộc hai trung đoàn pháo binh và bộ binh Pháp đóng trong thành Hà Nội, rồi bắn pháo hiệu làm hiệu lệnh tiến công cho các cánh quân của nghĩa quân chống Pháp đánh vào thành Hà Nội.
Lực lượng tiếp ứng bên ngoài gồm 3 cánh quân:
Một đội nghĩa quân chống Pháp khoảng 200 người được lệnh đánh thẳng vào Đồn Thủy [là khu nhượng địa, nay nằm ở vị trí bệnh viện Quân đội 108 ngày nay]
Một mũi chờ sẵn trên các thuyền đậu gần một xưởng thuốc lá [trên bờ hồ Tây] tiến đánh thẳng vào cửa Bắc thành.
Cánh quân thứ ba, rất nhiều nghĩa quân từ Sơn Tây về yểm trợ, trong đó 20 người là người của Hoàng Hoa Thám, được trang bị súng ngắn, chờ sẵn trước vọng lâu của phủ Toàn quyền, chuẩn bị đánh trại lính khố đỏ ở phía Tây [của nơi tập kết].
Tuy vậy mật vụ Pháp đã biết trước một phần kế hoạch do nghi ngờ các hoạt động của bếp Hiên.
Trong bữa tối khoảng 20 giờ ngày 27 tháng 6 năm 1908, 125 lính và sĩ quan Pháp thuộc trung đoàn 4 pháo binh và 80 lính khác thuộc trung đoàn 9 bộ binh thuộc địa được cho ăn cà độc dược bị trúng độc và bất tỉnh.
Tuy nhiên, vì lượng thuốc độc trong cà độc dược chưa đủ mạnh lên sĩ quan và lính Pháp không chết, quân Pháp lập tức báo động, toàn bộ lính người Việt trong thành tham gia khởi nghĩa, chưa kịp bắn ba phát đại bác như đã định, thì đã bị tước vũ khí và bị bắt giam.
Cả ba cánh quân sẵn sàng chờ hiệu lệnh tiến công từ trong thành phát ra. Chờ đợi mãi không thấy hiệu lệnh tiến công như đã hẹn từ trong thành vọng ra, các cánh quân biết là bị lộ. Theo lệnh của Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân ở các hướng khẩn trương rút ra ngoài để khỏi bị quân Pháp bắt.
Hội đồng đề hình [Commission criminelle] thành lập ngày 28 tháng 6 năm 1908 có De Mirabel làm chánh thẩm phán, Duvillier [sau bị thay thế bởi Bosc] và Villain làm bồi thẩm. Công tố viên là Grillaud des Fontaines kết tội lính Việt "xâm phạm nền an ninh của chính phủ Bảo hộ". Và kết án tử hình những người cầm đầu, chia ra làm 4 đợt.
1. Ngày 8 tháng 7 năm 1908, quân Pháp đưa 3 người đầu tiên: Đặng Đình Nhân [Đội Nhân], Nguyễn Trị Bình [Tư Bình], và Nguyễn Văn Cốc [Dương Bé] ra xử chém ở phía trước cột cờ Hà Nội [Công viên Lê-nin ngày nay]. Sau đó quân Pháp bêu đầu của các nghĩa quân bị chém, nhằm ra oai và khủng bố tinh thần người Việt.
2. Sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 1908, cụ Hai Hiên, cụ Hạ sĩ Cai [tên thật là Nguyễn Duc? số quân 643], cụ phụ bếp Vũ Văn Thuận rời trại giam để đến nơi hành quyết.
3. Ngày 29 thì hành quyết ba người nữa: Lang Sẹo, Cai Xe và Cai Tôn.
4. Cuối cùng ngày 27 tháng 11 năm 1908 thì bốn người cuối cùng bị chém: Đỗ Văn Đàm [Đồ Đàm], Đội Hổ, Lý Chánh, và Vinh.
Ngoài 13 người phải tội chém, Hội đồng đề hình tuyên án sáu người khác tử hình khiếm diện, tổng cộng là 19 bị tội phải chết.
Địa điểm chém là Vườn Bàng ở gần chợ Bưởi. Mộ tập thể không đầu của 9 người này lúc đầu chôn ngay tại pháp trường. Về sau khi người Pháp lấy Vườn Bàng làm xưởng nhuộm thảm thì mộ bị chuyển tới một khu đất thuộc Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm.
Ngoài những án tử hình, Hội đồng đề hình xét bốn người bị tù khổ sai chung thân, 26 bị khổ sai hữu hạn, và 10 bị án 1-5 năm tù. Tổng cộng hình án là 59 người.
------------------------
Nguồn: - Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
- hồ sơ 46450, phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.
- Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
- Lật lại hồ sơ vụ Hà thành đầu độc, báo Hà Nội mới điện tử, ngày 20/9/2004.
------------------------
Toàn bộ ảnh do sĩ quan Edgart Imbert chụp, được chuyển màu, trên ảnh gốc có chữ viết tay chú thích từng cụ.


Nguồn: bài của Nét Xưa trên Facebook (trang cá nhân), đăng ngày 16/09/2026 — xem bài gốc.

Về Nguồn đăng lại nguyên văn với sự cho phép của tác giả (Messenger, 02/10/2026).

Ảnh phục dựng / tô màu có dùng công nghệ AI — là diễn giải của tác giả, màu sắc và chi tiết có thể khác tư liệu gốc. Ảnh gốc đặt ngay sau ảnh phục dựng. Ảnh gốc: Edgart Imbert.

Trưng bày

Hình ảnh (2)

Thích

Thảo luận(0)

Đăng nhập để tham gia thảo luận.

Chưa có bình luận nào.